Đồng hồ nhà trường

Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Ngọc Nam)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hoạt động gần đây của nhà trường

    O2__ruou_Etylic.flv Truong_THCS_Te_Loi__Noi_thap_sang_nhung_uoc_mo__a.gif IMG_0119.jpg IMG_0122.jpg IMG_0132.jpg IMG_0139.jpg IMG_01062.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    nhac nen


    Hoạt động của nhà trường

    IMG_01062.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Từ tư liệu anh nhà trường
    Người gửi: Lê Ngọc Nam
    Ngày gửi: 21h:44' 26-04-2012
    Dung lượng: 4.5 MB
    Số lượt tải: 17
    Mô tả:

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

    Câu hỏi 1 : Văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI Đảng ta khẳng định : Dân chủ XHCN là bản chất của xã hội ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự PT đất nước. Trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa khoa học, trình bày cơ sở lí luận quan điểm trên ? Nêu những nhân tố ảnh hưởng và giải pháp nhằm phát huy dân chủ ở cơ sở ?

    Bài làm

    Dân chủ và chế độ dân chủ XHCN là phạm trù cơ bản của lí luận của CNXHKH có quan hệ biện chứng với nhà nướca XHCN. trong thì chế độ dân chủ XHCN đã nói lên đầy đủ bản chất chính trị của nhà nước XHCN. Dân chủ luôn gắn liền với nhà nước với thể chế chính trị của g/c thống trị XH do đó khi nghiên cứu vấn đề DC Lê Nin đã khẳng định rằng DC là một khái niệm dùng để chỉ một chế độ chính trị XH mà ở đó nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực, DC là một hình thức tổ chức xã hội của XH có giai cấp, là mộ hìmh thái nhà nước, một chế độ chính trị.Chutịch HCM khi bàn về DC cũng khẳng định rằng dân chủ dân là chủ dân làm chủ.

    Đối với Đảng ta, trong quá trình lãnh đạo CMVN đã không ngừng phát triển DC XHCN và luôn coi DC là mục tiêu phấn đấu của XH. Chính vì vậy văn kiện đại hội XI Đảng ta khẳng định :  Dân chủ XHCN là bản chất của xã hội ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự PT đất nước.

    DC là một khái niệm xuất hiện khi XH có g/c, có nhà nức và tồn tại trong XH có g/c. Trong đó thì nét nổi bật là mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân  được điều tiết giữa một hệ thống pháp luật. Với tư cách là một chế độ chính trị, một hình thái nhà nước, nền DC xuất hiện lần đầu tin gắn liền với sự ra đời của nhà nước chiếm hữu nô lệ đó là nền DC chủ nô, nền DC đó đã thực hiện một số hoạt động mang nội dung DC. Họ đã tiến hành đại hội nông dân để bầu ra cơ quan quyền lực nhà nước, thực hiện quyền bầu cử, ứng cử. Tại hội nghị người dân được quyền bầu trực tiếp công khai. tuy nhiên, trong chế độ chiếm hữu nô lệ nền DC chủ nô còn nhiều sơ khai sơ lược. Khái niệm ND chỉ bao gồm chủ nô với quí tộc, đối với người nô lệ không được gọi là nông dân do đó nền DC chủ nô chỉ là nền DC do tiểu số đi bóc lột và cuộc đấu tranh giữa chủ nô và nô lệ đã làm cho nền DC chủ nô tan rã. Chế độ PK ra đời với sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế. Quyền lực XH thuộc về một người đó là vua, do đó, trong XH này không có DC phù hợp với sự phát triển của lịch sử. Với sự phát triển của nền KT thị trường đã dẫn đến sự phát triển của chính trị, tư tưởng và văn hoá đã dẫn đến CM tư sản ra đời và dành thắng lợi ở một số nước ( Hà Lan, Mỹ , Pháp, Anh... ) dẫn đến nền DC tư sản ra đời.NềnDCtư sản ra đời đã mang lại những tư tưởng tiến bộ về dân chủ nhiều yêu cầu về quyền công dân và quyền con người được ghi nhận. Về mặt pháp lí, nhiều khát vọng về tự do đã được pháp luật thừa  nhận. Đây là một bước tiến trong lịch sử phát triển của DC. Tuy nhiên, những yêu cầu của nền DC ghi trong hiến pháp và việc thực hiện trong thực tế của XH thì hoàn toàn khác nhau bởi những ràng buộc khắt khe hạn chế.các quyền bị chi phối bởi các lí do về kinh tế và g/c tư sản vẫn duy trì chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu SX, do đó, đối với người dân LĐ DC chỉ là hình thức. Để thực hiện đầy đủ yêu cầu về DC cho nhân dân thì tất yếu phải gạt bỏ g/c TS ra khỏi vị trí cầm quyền và CMVS đã nổ ra giành được thắng lợi ở một số nước. Mở đầu là tăhngs lợi của CM tháng 10 Nga ( 1917 ). CMVS thắng lợi dẫn đến sự ra đời của nền DC XHCN. Nền DC XHCN khác hẳn về chất so với các nền DC trước đó. Đây là dân chủ cho đa số, vì đa số nhân dân LĐ. NDLD vốn là người bị áp bưc, bóc lột đã trở thành người làm chủ XH. đây chính là điểm khác cơ bản nhất so với các nền dân chủ đã tồn tại trước đó.

              Xét về bản chất, DC XHCN chỉ được xác lập sau khi g/c CN thông qua đội tiên phong của mình là Đảng CS giành được chính quyền, tiến hành cải tạo và XD CNXH thông qua cuộc CM XHCN.

    Là sự lãnh đạo chính trị của g/c CN thông qua đảng của nó đối với toàn XH, nhưng có sự thống nhất giữa tính g/c công nhân với tính dân tộc và tính nhân dân, do lợi ích của g/c CN phù hợp với lợi ích của DT và của đại đa số NDLĐ.

    Do ĐCS lãnh đạo – yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, bởi vì, ĐCS đại biểu cho trí tuệ, lợi ích của g/c CN, ND LĐ và toàn DT. Với ý nhĩa này, DCXHCN mang tính nhất nguyên về chính trị. Sự lãnh đạo của ĐCS đối với toàn XH về mọi mặt Lê nin gọi là sự thống trị chính trị.

    ND LĐ là người làm chủ mọi quan hệ chính trị trong XH. Họ có quyền giới thiệu các đại biểu tham gia  đóng góp ý kiến XD chính sách, PL, XD bộ máy và CB nhân viên nhà nước. Mục đích của nền DC XHCN là xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân, tạo điều kiện cho ND làm chủ XH.

    Nền DC XHCN dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu SX chủ yếu đáp ứng sự PT cao của lực lượng SX hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao nhu cầu v/c và tinh thần của ND.

    Dưới góc độ kinh tế DC XHCN được biểu hiện là sự đảm bảo về lợi ích KT, phải coi lợi ích KT của người LĐ là động lực cơ bản nhất có sức thúc đẩy KT – XH phát triển.

    Bản chất KT đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình PT ổn định về KT và chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Mác – Lê nin và sự quản lí hướng dẫn của nhà nước XHCN; là sự kế thừa và PT mọi thành tựu mà nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực, kiềm hãm của các chế độ KT trước, nhất là bản chất tư hữu, áp bức bóc lột, bất công với đa số ND LĐ.

    Nền DCXHCN lấy hệ tư tưởng Mác – Lê nin tư tưởng của g/c CN làm nền tảng; đồng thời là sự kế thừa và phát huy những tinh hoa VH truyền thống các DT; tiếp thu những giá trị tiến bộ, văn minh mà nhân loại đã đạt được. Trong nền DC XHCN, ND được làm chủ những giá trị VH tinh thần; được nâng cao trình độ VH, có điều kiện để PT cá nhân.

    ở khía cạnh văn hoá, sự PT của DC XHCN và những thành quả đạt được trong công cuộc đấu tranh cho DC được coi như một quá trình sáng tạo văn hoá, một thành tựu văn hoá của loài người.

    Xét về sự khác biệt giữa DCXHCN và DCTS thì đây là 2 nền DC đang tồn tại trong thực tiễn đời sống chính trị của nhân loại hiện nay. DCXHCN ra đời có sự kế thừa một cách chọn lọc những thành tựu của nền DC trước đó, nhất là DC tư sản. Tuy nhiên 2 nền DC này có sự khác nhau về chất :

    Về mục tiêu phục vụ : DCXHCN là nền DC cho đại đa số ND LĐ, phục vụ lợi ích cho đại đa số; còn DCTS là nền DC cho thiểu số, phục vụ lợi ích cho thiểu số.

    Về bản chất g/c bản chất chính trị : DCXHCN mang bản chất của g/c CN và nó phục vụ cho lợi ích đa số, còn DC TS mang bản chất của g/c TS, lợi ích của g/c TS đối lập với lợi ích cơ bản của g/c CNvà ND LĐ.

    Dân chủ XHCN do ĐCS lãnh đạo, nhất nguyên về chính trị. Còn dân chủ TS do các đảng của g/c TS lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng đối lập.

    DCXHCN được thực hiện thông qua nhà nước pháp quyền XHCN; còn DCTS được thực hiện thông qua nhà nước pháp quyền tư sản.

    Về cơ sở kinh tế : DCXHCN được thực hiện trên cơ sở kinh tế là công hữu hoá các tư liệu SX chủ yếu; còn DCTS được thực hiện trên cơ sở tư hữu hoá các tư liệu sx.

    DCXHCN thực hiện nguyên tắc phân phối sản phẩm của XH chủ yếu theo kết quả LĐ và các nguồn lực đóng góp; còn DCTS thực hiện nguyên tắc này chủ yếu theo tài sản, tỉ lệ đóng góp kinh tế của mỗi cá nhân.

    Về tính pháp lí và tính thực tiễn : Nền DCXHCN đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân về mặt pháp lí cũng như trên thực tế. Hạn chế tối đa sự khác biệt giữa văn bản luật và quyền thực sự cuả người dân trong thực tế. DCTS, về mặt pháp lí xây dựng rất nhiều quyền của con người, nhưng nó lại đưa ra rất nhiều qui định để hạn chế tối đa việc thực hiện các quyền đó của công dân.

    Đánh giá về thành tựu của nền DCTS, C.Mác đã nhấn mạnh : DCTS ra đời là một bước tiến lớn trong lịch sử, nó đã xoá bỏ chế độ chuyên chế phong kíên, mở đường cho lực lượng sx phát triển. Tuy nhiên, tính nửa vời, cắt xén, giả hiệu của nó ở chổ : xét về thực chất , quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị của g/c tư sản đều nằm trong tay g/c tư sản.

    Liên hệ : Những yếu tố ảnh hưởng đến nền dân chủ ở cơ sở hiện nay bao gồm các nhân tố sau :

    - Vai trò của nhà nước và sự hoàn thiện của pháp luật ở địa phương ( tự liên hệ thực tế )

    Người dân thông qua tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gúp ý và bỏ phiếu tớn nhiệm chủ tịch Hội đồng nhân dân và chủ tịch ủy ban nhân dân; quan tâm tiếp thu, lắng nghe, trả lời, giải quyết các nguyện vọng chính đáng, hợp lý của người dân, qua đó đó gúp phần tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân được bền chặt hơn. Đặc biệt, cấp ủy, chính quyền phường, xó, thị trấn thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" để phát huy được sức mạnh của người dân tham gia giải quyết hiệu quả nhiều vấn đề liên quan đến nhu cầu, cuộc sống người dân tại địa bàn dân cư.

    - Trình độ dân trí và năng lực làm chủ của nhân dân ở địa phương ( tự liên hệ thực tế )

    Về ý thức làm chủ của người dân phải được thể hiện tốt hơn và phải thực hiện tốt các  hoạt động tự quản như: phong trào hiến đất làm đường, thực hiện chương trỡnh xúa đói, giảm nghèo, xây dựng nhà tỡnh thương, giữ gỡn trật tự an toàn xó hội, tớch cực tham gia hoạt động xó hội từ thiện, v.v..
    Người lao động phải dần dần nhận thức rừ hơn trách nhiệm và quyền lợi, có nhiều góp ý kế hoạch kinh doanh, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động làm lợi cho đơn vị; học tập, nâng cao tay nghề, chấp hành nội quy, quy trỡnh sản xuất, tớch cực tham gia phong trào thi đua góp phần hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của địa phương.

    - Vai trò lãnh đạo của Đảng ở địa phương ( tự liên hệ thực tế )

    Cấp ủy, chớnh quyền cõn nâng cao hơn ý thức phỏt huy quyền dõn chủ của dõn. Cỏc  chủ trương, chính sách của Đảng và chính quyền có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích của người dân  phải được công khai, đưa ra dân bàn bạc, thảo luận, bày tỏ ý kiến, phát huy được động lực của người dân. Cán bộ chính quyền cần quan tâm hơn đến việc thực hiện Quy chế Dân chủ gắn với cải cách hành chính, nhất là việc thực hiện cơ chế "một cửa", khắc phục dần việc gây phiền hà dân; đặt mỡnh trong sự giỏm sỏt của nhõn dõn.

    Các giải pháp nhằm phát huy dân chủ ở cơ sở hiện nay đó là :

    Một là, tập trung tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc yêu cầu, mục đích, quan điểm, nhiệm vụ trong Chỉ thị số 30 - CT/TW của Bộ Chính trị và chính sách của Nhà nước về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phải lấy hiệu quả tổ chức thực hiện để đối chiếu với việc học tập, quán triệt và ngược lại. Việc tuyên truyền và học tập, bồi dưỡng muốn cú kết quả phải phự hợp với trỡnh độ, khả năng tiếp thu của mỗi người. Tài liệu phải được trỡnh bày ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra; cỏn bộ được phân công tập huấn phải có trỡnh độ và gương mẫu thực hiện Quy chế Dân chủ.
    Hai là, xây dựng và thực hiện quy định, quy chế cụ thể. Một trong các nguyên nhân góp phần đưa việc thực hiện quy chế dân chủ có hiệu quả là phải xây dựng được quy định, quy chế, nội quy, quy ước phù hợp với đặc điểm mỗi nơi; phải phát huy trí tuệ đông đảo của cán bộ, công chức, người lao động và nhân dân trong quá trỡnh xõy dựng quy chế, làm cho mọi người nhận rừ mỡnh là người chủ để tự nguyện, tự giác thực hiện, có như vậy việc thực hiện mới đi vào thực chất. Xây dựng quy chế chỉ là bước đầu, quan trọng là phải tổ chức thức hiện quy chế, do đó phải tăng cường kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung quy chế cho phù hợp với tỡnh hỡnh thực tế đó thay đổi.
    Ba là, việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở gắn với thực hiện nhiệm vụ thường xuyên. Các cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải thường xuyên quán triệt Quy chế Dân chủ cơ sở không tách rời với thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Mặt khác, trong từng giai đoạn, từng thời điểm người lónh đạo cần tỡm ra nội dung trọng tõm để tập trung chỉ đạo. Bên cạnh đó cấp trờn phải theo dừi, hỗ trợ, thỏo gỡ vướng mắc cho cơ sở, không khoán trắng cho cơ sở.
    Bốn là, để thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở đạt kết quả, vai trũ của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương rất quan trọng, do vậy, cấp ủy, thủ trưởng các đơn vị phải nâng cao nhận thức; tăng cường kiểm tra và nhất là phải tự mỡnh nờu gương thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở. Cấp ủy phải quan tâm bố trí, kịp thời củng cố ban chỉ đạo, bồi dưỡng và tạo điều kiện để ban chỉ đạo hoạt động, nhưng mặt khác không được khoán trắng cho ban chỉ đạo.
    Năm là, cấp ủy các cấp phải quan tâm đúc kết, rút ra những kinh nghiệm từ các điển hỡnh và nhõn rộng ra cỏc đơn vị cũn lại phự hợp với tỡnh hỡnh cụ thể, đồng thời theo dừi việc thực hiện; kịp thời nắm tỡnh hỡnh thỏo gỡ vương mắc, lúng túng cho cơ sở trong quá trỡnh nhõn điển hỡnh.

    Ngoài ra chỳng ta cần làm tốt một số nhiệm vụ đú là :
    -Tiếp tục xõy dựng và hoàn thiện nền dõn chủ xó hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vỡ lợi ớch của nhõn dõn; cỏn bộ, cụng chức phải hoàn thành tốt chức trỏch, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân

    - Nõng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ cụng dõn, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xó hội của nhõn dõn thông qua chức năng quyền hạn của HĐND. Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp.

    - Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xó, phường, thị trấn.

    - Phỏt huy dõn chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xó hội; phờ phỏn và nghiờm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhõn dõn, những hành vi lợi dụng dõn chủ để làm mất an ninh, trật tự, an toàn xó hội; chống tập trung quan liờu, khắc phục dõn chủ hỡnh thức.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Câu 2 : Trên cơ sở lí luận chủ nghĩa Mác – Lê nin , phân tích vai trò con người và nhân tố con người trong sự nghiệp XD CNXH. Nêu những giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người hiện nay. Liên hệ việc thực hiện ở địa phương đơn vị ?

    Trả lời : Vấn đề con người và phát huy nhân tố con người luôn là vấn đề trọng tâm của mọi thời đại bởi con người là nhân tố quyết định cho mọi quá trình phát triển. Xuất phát từ vị trí đó, CN Mác – Lê nin đã coi vấn đề con người là vấn đề lí luận cơ bản của CNXH khoa học. Nghiên cứu vấn đề con người chủ nghĩa Mác – Lê nin tập trung lí giải về bản chất con người và vai tròcủa con người trong hoạt động thực tiễn, từ đó, chủ nghĩa Mác Lê nin đã đưa ra phạm trù con người hiện thực để lí giải về các mối quan hệ giữa người với người. Từ cách xem xét đó chủ nghĩa Mác lê nin cho rằng con người là sản phẩm của hoàn cảnh đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh. Con người là sản phẩm của hoàn cảnh nhưng thông qua hoạt động thực tiễn, con người đã cải tạo hoàn cảnh làm nên những biến đổi to lớn về điều kiện sống tự nhiên và xã hội của mình. Từ đó, thúc đẩy lịch sử xã hội phát triển.

    Đồng thời con người cũng là một thực thể song trùng bao gồm 2 mặt tự nhiên ( sinh học ) và mặt XH. Là SP của TN , con người có những hành vi bản năng và phải được thoả mãn những hành vi bản năng của mình để tồn tại và pT. CN Mác không hề triệt tiêu con người cá nhân , mà ngược lại, còn khẳng định mặt tự nhiên , mặt cá nhân của con người với đầy đủ sự phong phú đa dạng trong tính cách của nó.

    Trong quá trình sinh sống con người không chỉ tác động vào tự nhiên làm biến đổi giới tự nhiên, mà còn quan hệ với nhau thông qua quá trình thực tiễn  và thâm nhập vào các quan hệ XH, từ đó tạo nên bản chất người , làm cho con người khác với loài vật. Với bản chất XH, con người gắn bó chặt chẽ với đồng loại không thể tách rời ; đồng thời qua các mối quan hệ XH , cá nhân tự khẳng định  mình với đầy đủ tính cách của nó. Như vậy “ Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, banẻ chất con ngưới là tyổng hoà các mối quan hệ XH”

    Banr chất XH của con người được biểu hiện qua các quan hệ XH của con người. Sôpngs trong XH mỗi cá nhân không tồn tại một cách biệt lập mà gắn bó chặt chẽ với nhau và với những  cộng đồng nhất định như : gia đình, DT, giai cấp, nhân loại...tách khỏi cộng đồng mỗi cá nhân không thể tồn tại và phát triển.

    Trong XH có g/c con người mang tính g/c. Tính g/c của con người thể hiện ở chổ: mỗi người luôn thuộc về một g/c hay một tầng lớp XH nhất định. Từ đó, con người tiếp thu xu hướng tình cảm, đạo đức, tư tưởng của g/c và tầng lớp XH đó; đồng thời thế giới quan hành động của con người  cũng được qui định bởi thế giới quan của g/c hoặctầng lớp XH mà người đó xuất thân.

    Vì con người thuộc về một dân tộc nhất định cho nên con người mang tính dân tộc. Trong môi trường DT, con người được thừa hưởng mnhững giá trị mang đậm bản sắc truyền thống của DT mình, thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ, phong tục tập quán lối sống, trang phục kiến trúc nhà ở...

    Ngoài ra con người còn mang tính nhân loại vì trong quá trình hoạt động thực tiễn để tồn tại, đồng thời thúc đẫy LS PT lên những tầm cao mới, con người luôn có xu hướng phải mỡ rộng mối quan hệ hợp tác với đồng loại, với thế giới bên ngoài. Mỗi cá nhân con người nói riêng, rộng hơn là mỗi quốc gia dt nói chung cũng chỉ PT được khi mở rộng quan hệ ra bên ngoài nhất là trongthời đại KH CN và hợp tác quốc tế, toàn cầu hoá PT mạnh mẽ như hiện nay.

    Con người mang tính lịch sử và tính thời đại bởi vì con người luôn kế thừa tinh hoa của qua skhứ và thời đại, đồng thời cũng mang nhiều những hạn chế, khuyết tật của LS và thời đại mà con người sống và hoạt động thực tiễn. Vì vậy, C. Mác khẳng định : “ Thời đại nào con người ấy “

    Tóm lại, Con người là một thực thể TN – XH : con người tồn tại vừa với tư cách kalf một cá nhân, cá thể vừa mang bản chất XH. Tất cả những điều đó kết tinh trong con người để tạo một nhân cách PT toàn diện – hài hoà. Mọi sự tuyệt đối hay xem nhẹ mặt nào trong con người đều dẫn đến những sai lầm làm méo mó sự PT của nhân cách, hạn chế sự PT của mỗi cá nhân, cũng như cản trở sự PT của LS.

              Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nhân tố con người, song tưu trung đều cho rằng : nhân tố con người là một thuật ngữ dùng để nhấn mạnh chủ yếu đến mặt hoạt động và vai trò của con người với tư cách là một chủ thể thúc đẩy sự PT của LS XH loài người.ổtTên lập trường của CN Mác – Lê nin, nhân tố con người bao hàm những mặt sau :

    Thứ nhất, nhân tố con người là một nhân tố XH để phân biệt với các nhân tố khác trong đời sống XH như nhân tố KT, kỷ thuật, tài nguyên...được huy động vào quá trình hoạt động thực tiễn để đem lại sự PT và tiến bộ XH.

    Thứ hai, nhân tố con người được hiểu là những tiêu chí về SL, chất lượng của dân số và lao động. Nó nói lên khả năng của con người, của cộng đồng nười trong một hoàn cảnh XH –LS nhất định cần pahỉ được khai thác và phát huy trong quá trình cải tạo và xây dựng XH, mà trước hết và chủ yếu là số lượng và chất lượng của con người.

    Thứ ba, nhân tố con người bao gồm  một chinhr thể các g/c các tầng lớp XH, các DT, tôn giáo , các lứa tuổi...khác nhau, nhưng liên kết chặt chẽ với nhau nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp của cộng đồng để thúc đẩy tiến bộ XH.

    Thứ tư, nhân tố con người là những tiêu chío về nhân cách, bao gồm tất cả những yếu tố như phẩm chất, năng lực, đạo đức, tư tưởng tình cảm chức năng XH của con người ...có thể khaio thác, phát huy trong quá trìmh lđ thực tiễn XH. Trong đó đạo đức được xem là cái gốc có giá trị định hướng cho hoạt động của con người hướng tới những giá trị nhân đạo, tiến bộ và PT bền vững. Còn năng lực , đặc biệt là năng lực sáng tạo là điều kiện và khả năng thực hiện để con người vươn lên chinh phục những đỉnh cao mới thúc đẫy XH PT.

    Từ sự PT trên có thể hiểu nhân tố con người là một phạm trù triết học XH dùng để nhấn mạnh mặt hoạt động của con người với tư cách là chủ thể của toàn bộ tiến trình lịch sử; đồng thời , bao gồm cả những phẩm chất nhân cách tiềm năng và năng lực sáng tạo của con người được huy động vào quá trình cảỉ tạo tự nhên , cải tạo XH vì lợi ích của XH, nhân loại và của chính bản thân con người.

       Vì nhân tố con người đóng vai trò là chủ thể quyết định tiến trình pt của lịch sử XH. Do vậy, mỗi quốc gia DT phải biết cách phát huy có hiệu quả nhân tố con người  trong tiến trình pt của mình. Việc phát huy đó bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây :

    + Phát hiện ra những tiềm năng, năng lực sáng tạo những xu hướng pt chủ yếu của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong quá trrình lđsx và sáng tạo.

    + Tạo ra những điều kiện và môi trường thuận lợi để tiềm năng cuả mỗi cá nhân, mỗi tập thể và cộng đồng bộc lộ và tiếp tục nãy nỡ, khai phóng những tiềm năng, năng lực sẵn có, đồng thời chăm lo bồi dưỡng để không ngừng nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực lên những trình độ mới.

    Kế thừa, bổ sung và PT những giá trị của dt và thời đại, đồng thời tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa , khắc phục những nhân tố tiêu cực có tác động xấu đến xu hướng vận động và pt của nhân tố con người.

    Vai trò của nhân tố con người trong sự nghiệp XDCNXH.

    Đánh giá vai trò quyết định của nhân tố con người đối với sự pt của LSXH, chủ nghĩa Mác – Lê nin khẳng định :Con người vừa là sản phẩm cuảe tự nhiên và xh, vừa là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xh. con người là yếu tố qaun trọng nhất trong lực lượng sx; cách mạng là sự nhiệp của quần chúng, quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định sự pt của LS, của xh.

    Chủ Tịch HCM cũng khẳng định sự cần thiết phải chăm lo, bồi dưỡng, phatý huy nhân tố con ngưổitng tiến trình CM, xem đó là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của CM VN. Người nói : “Vì lợi ích mười năm......trồng người”; Muốn xdCNXH , trước hết cần có con người XHCN”. Con người XHCN, theo HCM là những con người có ý thức, trình độ và năng lực làm chủ, có đạo đức, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, có kiến thức KHKT, có tinh thần sáng tạo và thường xuyên có ý thức nâng cao trình độ tri thức về mọi mặt, ra sức rèn luyện sức khoẻ, đảm bảo PT toàn diện cá nhân; đó là con người LĐ có ý thức tổ chức kỷ luật cao, biết đánh giá chất lượng LĐ của bản thân ; là những con người giàu lòng yêu nước, thương dân có tình thương yêu g/c, thương yêu đồng loại, sống nhân văn, nhân đạo; có ý thức và kiên cường đấu tranh bảo vệ chế độ XHCN, chống lại những âm mưu chống phá của các thế lực thù đinh. Tóm lại, đó là những con người vừa có đức, vừa có tài, vừa hồng, vừa chuyên.

    Trong quá trình PT, các nhân tố như tài ngưyên thiên nhiên, nhân tố kỹ thuật, công nghệ; nhân tố tài chính....rất quan trọng và cần thiết, song các nhân tố này tự bản thân nó không phát  huy tác dụng và sẽ cạn kiệt dần trong quá trình khai thác và sử dụng. Trong khi đó nhân tố con người là chủ thể khơi dậy tác dụng của các nhân tố khác. Hơn nữa, với tiềm năng sáng tạo của mình nếu được phát huy đúng đắn, nhân tố con người có thể tạo ra những nguyên liệu mới không có sẵn trong tự nhiên để bù đắp những thiếu hụt của tự nhiên, thúc đẩy KT –XH phát triển.

    Hiện nay, trong điều kiện C/M KH – công nghệ và KT tri thức PT mạnh mẽ thì tri thức là yếu tố nền tảng, quan trọng để tạo ra sự pt nhanh chóng. Nhưng tri thức lại do con người tạo ra không ngừng. Do vậy, đầu tư và phát huy nhân tố con người trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của mỗi quốc gia trong cuộc đua phát triển.

    Để phát huy nguồn lực con người, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp sau:
    Thứ nhất: Trong lĩnh vực kinh tế.
    Phải nâng cao vị thế của người lao động trong quá trỡnh sản xuất. Cần nhanh chúng khắc phục tỡnh trạng tỏch người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất.
    Thực hiện giao đất, giao rừng cho nông dân, tạo điều kiện cho mọi người dân làm chủ cụ thể những tư liệu sản xuất của toàn xó hội, ở mọi thành phần kinh tế.
    Huy động rộng rói nhõn dõn đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xó hội của đất nước, của địa phương, đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của đơn vị.
    Phát huy sáng kiến của người lao động, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của họ, thực hiện phân phối công bằng, công khai, dân chủ.
    Động viên mọi người dân bỏ vốn ra sản xuất kinh doanh, khai thác thế mạnh của các địa phương, phát triển ngành nghề truyền thống, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, phỏt huy trỡnh độ tay nghề, năng lực quản lý kinh doanh của mỗi thành viờn trong xó hội, để cùng với Nhà nước giải quyết những khó khăn của đất nước.
    Tăng cường giáo dục đạo đức, khơi dậy lương tâm nghề nghiệp, nêu cao trách nhiệm của mỗi người trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Cần làm cho mọi người thấy được trách nhiệm của mỡnh phải lao động nghiêm túc, có chất lượng, có hiệu quả, tạo ra hàng hoá tốt, nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều đó vừa tạo điều kiện cho xó hội phỏt triển, vừa là điều cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả. Phê phán mạnh mẽ thói lười biếng, làm bừa, làm ẩu; ngăn chặn làm ăn phi pháp, phi đạo lý.
    Thứ hai: Trong lĩnh vực chớnh trị.
    Nõng cao trỡnh độ của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhận thức chính trị (chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta), về luật pháp, về Nhà nước của dân, do dân, vỡ dõn, từ đó nâng cao trách nhiệm và năng lực của họ tích cực tham gia vào công việc của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị của nước ta.
    Tăng cường vai trũ kiểm tra giỏm sỏt của quần chỳng nhõn dõn trong mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện dân chủ hoá đời sống xó hội, huy động đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
    Xây dựng cơ chế quản lý xó hội, quản lý nhà nước để người dân có điều kiện tham gia công việc Nhà nước, công việc xó hội, thực sự là người làm chủ đất nước; khắc phục tỡnh trạng trỡ trệ, bảo thủ trong một số cơ quan nhà nước.
    Phân rừ trỏch nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng tập thể, từng cỏ nhõn trong từng cụng việc, khắc phục tỡnh trạng chồng chộo, hay buụng lỏng quản lý nhà nước trong một số ngành, một số địa phương.
    Giáo dục tinh thần yêu nước, nâng cao ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm công dân, bản lĩnh chính trị của mỗi người dân. Kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, tỡnh trạng vi phạm kỷ cương, phép nước và những âm mưu chống phá của kẻ thù, bảo vệ chế độ xó hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cỏch mạng.
    Trờn cơ sở những thành quả cách mạng đạt được, người dân lao động mới có điều kiện học tập, rèn luyện, phấn đấu về mọi mặt và cống hiến ngày càng nhiều cho xó hội.
    Thứ ba: Trờn lĩnh vực xó hội.
    Từng bước khắc phục đi tới loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, những quan hệ không bỡnh đẳng, xây dựng quan hệ mới giữa người với người trên tinh thần tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh, trong đời sống xó hội. Xõy dựng quan hệ bỡnh đẳng hữu nghị giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, giữa các quốc gia.
    Cần thực hiện những biện pháp làm giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng lónh thổ. Quan tõm tới những hộ nghèo, những gia đỡnh khú khăn, những hộ chính sách xó hội, những vựng sõu, vựng xa tạo ra cơ hội phát triển cho mọi người, làm cho mọi người dân đều được hưởng những thành quả y tế, giáo dục, văn hoá...
    Thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo; tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách về lao động việc làm; trên cơ sở đó, người lao động mới có điều kiện nâng cao trỡnh độ tri thức, trỡnh độ tay nghề, mới có môi trường rèn luyện phấn đấu, cống hiến sức mỡnh cho đất nước, cho xó hội.
    Thứ tư: Trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
    "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" cho đất nước, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Cần phải tuyên truyền làm cho mọi người dân thấy được trỏch nhiệm của mỡnh đối với sự nghiệp chung của đất nước mà quan tâm tới lĩnh vực này.
    Đảng, Nhà nước, các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xó hội và từng gia đỡnh đều phải quan tâm tới giáo dục và đào tạo. Tăng cường hơn nữa sự phối hợp của gia đỡnh, nhà trường, xó hội trong đào tạo thế hệ trẻ.
    Để đào tạo ra những cán bộ vừa "hồng" vừa "chuyên" có ý thức và năng lực làm chủ đất nước, làm chủ xó hội, cần phải cú sự đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục. Nội dung giáo dục phải phản ánh được những tri thức quan trọng nhất của thời đại, những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ, phải góp phần giáo dục lũng yờu nước, ý thức tự cường dân tộc, hỡnh thành nhõn cỏch mới của người lao động.
    Phải tích cực đổi mới phương pháp dạy và học. Phương pháp dạy phải kích thích được tính sáng tạo, sự hăng say tỡm tũi nghiờn cứu của người học. Phương pháp học phải độc lập tự chủ, biết vận dụng kiến thức đó học vào giải thớch và giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống đang đặt ra.
    Việt Nam là một nước cũn kộm phỏt triển về mặt kinh tế, tuy rằng đó đạt được một số thành tựu trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nhưng so với các nước trong khu vực và quốc tế vẫn cũn hạn chế. Số năm học bỡnh quõn của người dân cũn thấp, tỉ lệ chưa biết chữ cũn cao, do vậy, đũi hỏi chỳng ta phải nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa.
    Thứ năm: Trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, nghệ thuật.
    Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Đảng ta đó khẳng định, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam. Văn hoá nghệ thuật nước ta trước đây đó phục vụ tốt cho sự nghiệp cỏch mạng của Đảng, của dân tộc; đó động viên được nhân dân tích cực tham gia trong quá trỡnh xõy dựng chủ nghĩa xó hội ở miền Bắc và chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những năm đổi mới vừa qua văn học, nghệ thuật nước ta đó cú những đổi mới về nội dung, hỡnh thức, đó động viên được nhân dân tích cực tham gia sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước. Song bên cạnh đó văn học nghệ
    thuật vẫn cũn một bộ phận đi chệch hướng, chạy theo thị hiếu thấp hèn, dễ dói của một bộ ph


    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến